Menu

Máy tính động học

Biết ba trong năm đại lượng s, u, v, a và t là tìm được hai đại lượng còn lại, kèm phương trình động học dùng ở mỗi bước.

Tác giả Nethanel Bar, Đồng sáng lập kiêm CEO

Cập nhật lần cuối

Muốn tự giải những bài này mà không cần máy tính?

Khóa học vật lý của Coddy dạy bạn phương pháp: bạn giải từng bài theo từng bước trên một bảng tương tác, và bảng sẽ chỉ ra bước nào bị sai.

Các phương trình động học và cách chọn phương trình phù hợp

Các phương trình động học mô tả chuyển động thẳng với gia tốc không đổi, tức là chuyển động thẳng biến đổi đều. Chúng dùng năm đại lượng: độ dịch chuyển s, vận tốc đầu u, vận tốc cuối v, gia tốc a và thời gian t, nên ở Anh chúng được gọi là các phương trình SUVAT. Có tất cả năm phương trình, và mỗi phương trình vắng đúng một trong năm chữ cái đó.

Đó là toàn bộ bí quyết để chọn phương trình. Ghi ra ba giá trị bạn đã biết và giá trị bạn cần tìm; chữ cái còn lại là đại lượng bạn không có và cũng không cần, và phương trình vắng chữ cái đó chính là phương trình cần dùng. Một ô tô phanh từ 20 m/s đến khi dừng hẳn trên quãng 50 m, đề không cho thời gian và cũng không hỏi thời gian, thì dùng v² = u² + 2as, phương trình không có t.

Máy tính chọn phương trình thay cho bạn. Điền ba trong năm giá trị s, u, v, a và t, để trống hai giá trị còn lại, máy tính sẽ tìm cả hai, lần lượt từng phương trình, và cho biết mỗi bước dùng phương trình nào, biến đổi ra sao. Khi phép khai căn để ngỏ dấu, máy tính giữ dấu mà các giá trị khác cho phép; khi cả hai dấu đều hợp lý (quả bóng đi qua cùng một độ cao lúc bay lên và lúc rơi xuống), máy tính hiện cả hai đáp án. Nếu ba giá trị mâu thuẫn nhau, máy tính chỉ ra giá trị nào không khớp. Các giá trị tính bằng km/h, mph, km hay feet được đổi sang đơn vị SI trước, thành một bước riêng.

Những điều cần để ý

  • v = u + at không có s, s = ½(u + v)t không có a, s = ut + ½at² không có v, v² = u² + 2as không có t, và s = vt − ½at² không có u.
  • Các phương trình chỉ đúng khi gia tốc không đổi. Với một ô tô tăng tốc rồi phanh lại, hãy chia quãng đường thành từng giai đoạn và giải riêng từng giai đoạn.
  • s, u, v và a đều có hướng. Chọn một chiều dương và giữ nguyên chiều đó: nếu chọn chiều lên là dương, gia tốc trọng trường là a = −9,81 m/s².
  • s là độ dịch chuyển, tức độ thay đổi vị trí, không phải quãng đường đi được. Một quả bóng ném lên rồi rơi lại vào tay bạn có s = 0.
  • Giải v² = u² + 2as theo v được v = ±√(u² + 2as). Dấu cho biết hướng: chọn chiều lên là dương thì vật đang rơi có vận tốc âm, và máy tính chọn dấu mà các giá trị khác cho phép.

Cách giải một bài toán động học

  1. Ghi ra những gì đã biết

    Gọi tên mỗi giá trị bằng chữ cái của nó. "Xuất phát từ trạng thái nghỉ" nghĩa là u = 0, "dừng hẳn" nghĩa là v = 0, còn "thả rơi" nghĩa là u = 0 với a = 9,81 m/s² hướng xuống.

  2. Chọn chiều dương

    Mọi đại lượng hướng theo chiều ngược lại đều mang dấu trừ. Ô tô đang chạy tới mà phanh lại thì có a âm.

  3. Chọn phương trình vắng chữ cái còn thiếu

    Trong s, u, v, a và t, tìm đại lượng bạn không biết và cũng không cần. Dùng phương trình không chứa đại lượng đó, theo bảng bên dưới.

  4. Biến đổi rồi mới thay số

    Đưa ẩn về một vế trước khi thay số, với mọi giá trị tính bằng m, m/s, m/s² và s. Trong máy tính, chỉ cần để trống hai ẩn là bạn sẽ thấy từng bước như vậy.

Năm phương trình SUVAT

Mỗi phương trình dùng bốn trong năm đại lượng. Chọn phương trình vắng đại lượng mà bạn không biết và cũng không cần.

Phương trìnhKhông cóDùng khi
v = u + ats (độ dịch chuyển)Đề không cho và không hỏi độ dịch chuyển
s = ½(u + v)ta (gia tốc)Đề không cho và không hỏi gia tốc
s = ut + ½at²v (vận tốc cuối)Đề không cho và không hỏi vận tốc cuối
v² = u² + 2ast (thời gian)Đề không cho và không hỏi thời gian
s = vt − ½at²u (vận tốc đầu)Đề không cho và không hỏi vận tốc đầu

Ví dụ có lời giải

Tăng tốc từ trạng thái nghỉ

plain
u = 0 m/s, a = 3 m/s², t = 4 s

Chưa biết s và v. v = u + at, phương trình không có s, cho v = 0 + 3 · 4 = 12 m/s. Sau đó s = ½(u + v)t = ½ · (0 + 12) · 4 = 24 m. Kiểm tra lại bằng s = ut + ½at² = 0 + ½ · 3 · 4² cũng ra 24 m.

Phanh đến khi dừng hẳn

plain
u = 20 m/s, v = 0 m/s, s = 50 m

Chưa biết a và t. Biến đổi s = ½(u + v)t thành t = 2s/(u + v) = 2 · 50 / 20 = 5 s. Sau đó a = (v − u)/t = (0 − 20)/5 = −4 m/s². Dấu trừ cho biết gia tốc ngược chiều chuyển động: ô tô đang chậm dần.

Thả rơi từ độ cao 100 m

plain
s = 100 m, u = 0 m/s, a = 9,81 m/s²

Chọn chiều xuống là dương. Đề không cho thời gian nên dùng v² = u² + 2as: v = √(0² + 2 · 9,81 · 100) = √1962 = 44,29 m/s. Sau đó t = (v − u)/a = 44,29 / 9,81 = 4,52 s. Bỏ qua sức cản không khí, đúng như giả thiết của các phương trình.

Ném thẳng đứng lên trên

plain
u = 15 m/s, v = 0 m/s, a = −9,81 m/s²

Chọn chiều lên là dương, nên gia tốc trọng trường là −9,81 m/s², và v = 0 tại điểm cao nhất. t = (v − u)/a = (0 − 15)/(−9,81) = 1,53 s để lên tới đỉnh. Sau đó s = ½(u + v)t = ½ · 15 · 1,529 = 11,47 m, chính là độ cao cực đại.

Những lỗi thường gặp

  • Dùng các phương trình khi gia tốc thay đổi. Chúng chỉ đúng với gia tốc không đổi; hãy chia chuyển động thành các giai đoạn có gia tốc không đổi.
  • Nhầm dấu. Nếu chiều lên là dương, gia tốc trọng trường và vận tốc của vật đang rơi đều âm. Chọn một chiều và giữ nguyên cho mọi giá trị.
  • Để nguyên tốc độ theo km/h. 72 km/h là 20 m/s; thay 72 vào v = u + at với a tính bằng m/s² thì đáp án lệch đi 3,6 lần.
  • Nhầm quãng đường với độ dịch chuyển. Quả bóng bay lên 11,47 m rồi rơi trở lại đã đi được 22,94 m, nhưng độ dịch chuyển của nó bằng 0.
  • Khai căn từng số hạng. v = √(u² + 2as) không phải u + √(2as): cộng trước, rồi mới khai căn.
  • Bỏ sót giá trị ẩn trong đề. "Xuất phát từ trạng thái nghỉ" nghĩa là u = 0 và "dừng hẳn" nghĩa là v = 0; hầu hết bài toán chỉ cho một trong hai giá trị này bằng lời.
  • Mong một đáp án mà các con số không cho phép. Hòn đá ném lên với 10 m/s chỉ lên cao được 5,10 m, nên tốc độ của nó ở độ cao 10 m không tồn tại, và máy tính sẽ báo không có giá trị nào phù hợp.

Câu hỏi thường gặp về các phương trình động học

Các phương trình động học là gì?

Đó là năm phương trình cho chuyển động có gia tốc không đổi: v = u + at, s = ½(u + v)t, s = ut + ½at², v² = u² + 2as và s = vt − ½at². Trong đó s là độ dịch chuyển, u là vận tốc đầu, v là vận tốc cuối, a là gia tốc và t là thời gian.

SUVAT là viết tắt của gì?

Là năm đại lượng trong các phương trình: s là độ dịch chuyển, u là vận tốc đầu, v là vận tốc cuối, a là gia tốc và t là thời gian. SUVAT là tên gọi ở trường học tại Anh; ở Mỹ, năm phương trình này thường được gọi là các phương trình động học hoặc phương trình chuyển động. Sách giáo khoa Việt Nam thường viết v₀ thay cho u.

Làm sao biết nên dùng phương trình động học nào?

Liệt kê ba giá trị đã biết và giá trị cần tìm. Sẽ còn thừa một trong năm chữ cái, và phương trình không chứa chữ cái đó là phương trình cần dùng. Không cho và không hỏi thời gian thì dùng v² = u² + 2as.

Cần bao nhiêu giá trị để giải một bài toán động học?

Ba giá trị. Mỗi phương trình liên hệ bốn trong năm đại lượng, nên với ba giá trị đã biết sẽ có một phương trình chỉ còn một ẩn. Giải phương trình đó được giá trị thứ tư, và một phương trình khác cho giá trị thứ năm. Nếu chỉ có hai giá trị, máy tính sẽ liệt kê những gì còn thiếu.

Các phương trình động học có dùng được cho rơi tự do không?

Có, miễn là sức cản không khí đủ nhỏ để bỏ qua, vì khi đó gia tốc không đổi và bằng g = 9,81 m/s². Dùng a = 9,81 m/s² nếu chọn chiều xuống là dương, hoặc a = −9,81 m/s² nếu chọn chiều lên là dương.

Vì sao gia tốc của tôi lại âm?

Gia tốc âm hướng theo chiều âm. Nếu vật đang chuyển động theo chiều dương, nó đang chậm dần; nếu vật đang chuyển động theo chiều âm, nó đang nhanh dần. Ô tô phanh từ 20 m/s đến khi dừng hẳn trên quãng 50 m có a = −4 m/s².

Vì sao phép khai căn chỉ cho một đáp án?

Từ v² = u² + 2as, cả +v và −v bình phương lên đều ra cùng một số. Máy tính đưa ra đáp án dương; đáp án âm là cùng tốc độ đó nhưng theo hướng ngược lại, và là đáp án cần lấy nếu vật đã đổi chiều, như quả bóng đang rơi trở xuống.

Thêm máy tính vật lý

Hình minh họa các ngôn ngữ lập trình của Coddy

Học vật lý cùng Coddy

Bắt đầu